Tại sao ta béo

Tại sao ta mập?

Tùy điều kiện, sự lên cân nhanh hay chậm, kinh khủng hay âm ỉ đều là do sự thay đổi của mô mỡ.

I- Cấu tạo mô mỡ

adipocyte trắngMô mỡ gồm một số lớn tế bào gọi là adipocyte (có khoảng 20 đến 25 tỉ).  Mọi tế bào mỡ đều chứa một hay nhiều cầu mỡ (globule de gras). Chúng càng chứa nhiều mỡ, ta càng mập.

Số mô mỡ thay đổi, nó tăng chớ không bao giờ giảm!

Chúng ta được dự trữ những tế bào thật nhỏ gọi là pré-adipocytes, chúng sẽ trở thành adipocytes: trong lúc mang thai hay nếu ăn quá nhiều. Một khi đã được xếp đặt, những adipocytes cho dù là từ nguyên gốc "sinh ra đã có sẵn"  hay từ pré-adipocytes  thì số lượng sẽ không thay đổi nữa. Chúng chỉ chất đầy hay trút bớt mỡ mà thôi. Chúng không bao giờ biến mất. Ta sẽ mang khối dự trữ đó đến ngày cuối cùng của cuộc đời, lúc nào cũng sẵn sàng đổ đầy và tăng thêm. Chỉ duy nhất một thứ có thể làm mất đi là sự rút mỡ (liposuccion)

Ðó là một trong những nguyên nhân mà người ta rất dễ mập sau khi sụt ký

II) Sự phân phối mô mỡ

Trong những năm đầu của đời người, mỡ của những đứa con trai hay con gái nhỏ  được phân phối đồng đều khắp thân thể. Những em bé cũng được "bao" bởi cách đó.

1) Trong lứa tuổi dậy thì, kích thích tố làm thay đổi sự phân phối mỡ.

Nơi con trai mỡ giảm phần dưới cơ thể và chuyển lên phần trên.

Nơi con gái, mỡ ở dưới thấp hơn.

2) Kích thích tố nữ

Kích thích tố estrogènes và progestérone do buồng trứng tiết ra kích thích sự tạo adipocytes nơ vùng háng và đùi. Chúng cũng tăng hình thù: Những tế bào chứa mỡ to thì chứa nhiều mỡ hơn.

3) Kích thích tố nam, androgènes, do dịch hoàn tiết ra, đóng vai trò nghịch lại: chúng làm giảm số adipocytes nơi mông và tất cả vùng này.

4) Lúc mãn kinh, sự tiết kích thích tố ngưng, mỡ nơi đàn bà không giảm phía dưới mà lại phát triển ngay phần trên rốn nếu không chữa trị bằng điều hòa kích thích. Vào lứa tuổi năm mươi dáng dấp trở nên cứng hơn và nam tính hơn.

III - Những nguyên do lên cân

Nhiều nguyên do khác nhau nhung tựu trung đều đưa đến cùng một kết quả: chất đầy những adipocytes nhờ

* thức ăn quá giàu mỡ hay năng lượng

* Thiếu sự tiêu xài năng lượng

nên có sự chênh lệch giữa thức ăn vào và năng lượng ra

1) - Di truyền

Trong mười năm trở lại, những nghiên cứu về gène cho phép ta phát hiện từ từ những gène tham dự vào sự chuyển hóa chất béo và trong sự tạo thành nặng cân (mỡ).

Ngày nay người ta biết có những gène ảnh hưởng trên sự ngon miệng, sự tiết ra diếu tố (enzyme) cầ thiết để đốt chất béo và hãm lại sự tồn trữ.

Nếu một trong hai người cha hoặc mẹ quá mập thì  nguy cơ mập cỡ 40%.

Nếu cả hai cha lẫn mẹ đều mập quá bình thường thì sự nguy cơ lên đến 80%

Thật là một bất công nhưng người ta không thể thay đổi tính di truyền được

2) - Thói quen xấu trong sự an uống

Những thói quen thường bắt đầu từ lúc nhỏ. Một đứa trẻ sống trong gia đình ăn to hay bị bà mẹ nhồi nhét thức ăn vì lúc nào cũng lo lắng nghĩ rằng mọi vấn đề đều được giải quyết bằng ăn thì sẽ bị thặng dư không thể tránh được vài tỉ adipocytes  và quen ăn nhiều.

Nếu lúc nhỏ cứ để mập thêm mãi thì sẽ dẫn đến chứng mập phì (obésité).

3) - Thai nghén

Thời kỳ thai nghén là thời kỳ những pré-adipocytes được biến đổi thành adipocytes

4) - Chu kỳ kinh nguyệt

Chu kỳ kinh nguyệt thay đổi sự ngon miệng. Ta có thể:

* đói ăn trong thời kỳ hành kinh  và trước lúc rụng trứng vài ngày.

* là nạn nhân của những cơn đói cồn cào trong nửa chu kỳ thứ hai.

5) - Kích thích tố:

* Oestrogènes được tiết ra rất nhiều trong nửa chu kỳ đầu làm giảm sự thèm ăn.

*Progestérone tạo ra nhiều hơn trong nửa chu kỳ cuối làm tăng sự thèm ăn.

Nặng thêm một ký trong hai tuần sau sẽ mất đi trong hai tuần kế tiếp.

* Oestrogènes giúp cho sự tích trữ mỡ trong những adipocytes nơi hông và đùi. Nếu quá nhiều kích thích tố này thì sẽ mập.

6) - Sự tránh thai

Số đông những phụ nữ dùng thuốc tránh thai không lên cân trong lúc có những phụ nữ khác thì mập lên..

Thuốc tránh thai là những kích thích tố dưới dạng thuốc sẽ thay đổi sự cân bằng của kích thích tố thiên nhiên mà không phụ nữ nào giống người phụ nữ nào. Do đó những phản ứng do thuốc trên các phụ nữ khác nhau trên vấn đề ăn uống. Nếu cảm giác đói tăng, ta ăn càng nhiều thì càng mập.

Sau khi đặt vòng, tuy chẳng thay đổi gì về lượng kích thích tố, cũng có thể mập lên bởi vì có sự giằng co tâm lý. Người đàn bà sống trong cảm giác vô thức như bị mất mát và để đền bù, họ ăn.

7) - Tuổi tác

Vào khoảng 50 tuổi, người đàn bà đến thời mãn kinh. Buồng trứng hoạt động kém dần nên kích thích tố giảm, đưa đến sự tích trữ mỡ. Lên cân lúc bắt đầu tuổi 50 không có hại gì cả, chỉ vì sự tiêu xài năng lượng quá ít và vì tâm lý sợ già , không còn quyến rũ, không còn toàn diện như trước.

8) - Cai thuốc lá

Thuốc lá có chất  nicotine là một chất kích thích hệ thống thần kinh  kết quả làm biếng ăn (anorexigène):

* Một điếu thuốc hút trước bữa ăn làm mất hay giảm sự thèm ăn

* Những người hút nhiều trong bữa ăn thường ăn ít.

Khi chất  nicotine trong cơ thể giảm, cảm giác đói mạnh hơn nên ta ăn nhiều hơn.

Hút thuốc tiêu xài năng lượng, khoảng vài chục calorie cho mỗi điếu thuốc. Sự tiêu xài năng lượng này ngưng khi ta ngưng hút.

Ðể giữ thăng bằng cho sự thu và thải năng lượng do ăn uống, phải ăn ít vì khi cữ thuốc tức là bớt sự tiêu xài năng lượng. Bởi sự thèm ăn tăng khi thiếu chất anorexigène của thuốc lá

Ngoài ra người ta thường muốn ăn đồ ngọt để bổ sung cho cảm giác thèm thuốc lá và cũng để  thay thế cho thói quen mang điếu thuốc lá trong miệng ngày trước.

9) - Ngừng thể thao

Dĩ nhiên là khi ta chơi thể thao, ta tiêu xài năng lượng rất nhiều. Cơ thể cần năng lượng rất nhiều nên ta ăn nhiều. Ta quen thói ăn nhiều những thức ăn bổ dưỡng cho nhiều năng lượng vì không sợ mập.

Rất thường khi ngừng chơi thể thao đột ngột vì bị thương tích hay vì lý do nào khác mà ta vẫn giữ thói quen ăn uống như trước trong khi sự tiêu xài năng lượng giảm nên ta lên cân. Nhưng nếu ta giảm ăn những thức ăn nhiều nhiệt lượng thì sẽ không bị lên cân.

10) - Sérotonine và sự ăn vặt

Sérotonine là thần kinh trung gian (neuromédiateur) có tác dụng trên sự thèm ăn, cảm giác no, tính khí (humeur), buồn ngủ, căng thẳng lo lắng (stress) . Tất cả những yếu tố trên quyết định sự thăng bằng cơ thể.

Sérotonine do não tiết ra:

* từ tryptophane

* có nhiều trong não

* có khi thức ăn giàu chất bột (glucide)

Vậy phải cần nhiều tinh bột mới tạo ra sérotinine

Ta thiếu sérotinine khi:

* Bữa ăn không đủ tinh bột, khi ta cữ ăn hoàn toàn  cơm, bánh mì (thường là để khỏi lên cân)

* Là nạn nhân của sự lo lắng căng thẳng. Cho dù nỗi lo lắng mãnh liệt hay thường xuyên, nó đều huy động để tạo sự thèm ngọt.  Ta cần chất ngọt: vây là ta ăn vặt bánh kẹo để có cảm giác dễ chịu hơn

*Hệ thống điều hòa sérotonine không hoạt động tốt. Ðây là trường hợp nơi những "người thèm muốn chất carbohydrate" (tinh bột, đường), gọi là "carbohydrate cravers".  Những người này thèm chất ngọt và có những thôi thúc không kiềm chế được đối với những món ăn ngọt, ăn nhiều lần trong ngày. Ðối với họ, đồ ngọt là loại "ma túy" làm họ giảm cơn ghiền.

Cho dù từ nguồn gốc nào đi nữa thì thiếu glucide trong thực phẩm hay rối loạn trong cách ăn uống, những sự thúc đẩy ăn ngọt để tạo ra chất sérotinine sẽ làm mất thăng bằng cách thức ăn uống một cách đáng kể. thí dụ như ăn nhiều đường hay nhiều chất béo cùng với đường (phần lớn đồ ăn vặt thường béo và ngọt) có nghĩa là mang đến cho cơ thể quá nhiều calorie sẽ đưa đến sự tăng trọng lượng.

11) - Bụng tròn

Chất kích thích tố corticoïde tiết ra bởi nang thượng thận thích hợp cho sự tích trữ mỡ trong những  adipocytes nơi bụng.

Kích thích tố corticoïde được tạo ra do ảnh hưởng của sự lo lắng sợ hãi: người ta thường gọi nó là "hormone du stress"

Lượng adrénaline tăng không thích hợp cho bụng thon. Ðiều này có thể giải thích vì sao có những người đàn bà không mập mà bụng to tròn.

 Thuốc là và rượu thường đi đôi với stress  và đều có tác dụng như nhau.

12) Thuốc tây

Những thuốc chống suy nhược thần kinh (antidépresseur) và những thuốc an thần (tranquillisant) thích hợp cho sự lên cân bởi vì chúng làm chậm lại sự chuyển hóa căn bản của cơ thể.

Vì vậy không nên dùng những thứ thuốc này nếu ta không thật sự cần.

Cortisone cũng có hiệu quả như vậy. Do đó có thể dùng một chế độ ăn uống nghèo chất Sodium (muối ăn) nghĩa là đừng ăn mặn.

 

Theo Vietsciences

 

Comments