Thực phẩm chức năng - ngành kinh tế mới thế kỷ 21

posted 16 Aug 2013, 19:18 by giam can tran

Thực phẩm chức năng - ngành kinh tế mới thế kỷ 21

Thực phẩm chức năng là xu thế của thế kỷ 21, con người này càng quan tâm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho mình từ khi còn đang khỏe mạnh. Thực phẩm chức năng (TPCN) là cơ hội của tương lai cho sự phát triển kinh tế, xã hội.

SƠ LƯỢC NGÀNH KINH DOANH TPCN TẠI VIỆT NAM

Tại Việt nam TPCN tuy mới hình thành thị trường (từ năm 1993) và đã phát triển nhanh chóng. Các lợi ích về kinh tế do TPCN mang lại rất to lớn và đầy tiềm năng. Do Việt nam có nguồn dược thảo phong phú (cả thực vật lẫn động vật) có thể làm nguyên liệu chế biến thành TPCN , hệ sinh thái và thảm thực vật của nước ta rất đa dạng, nhiều thảo dược quý có công dụng rất tốt đối với sức khỏe và điều trị bệnh.

Ngành TPCN ra đời cũng là “cứu cánh” của các cơ sở sản xuất tân dược không đạt chuẩn WHO GMP theo yêu cầu của Cục Quản lý dược Bộ y tế. Theo lộ trình đến hết 30/6/2008 các cơ sở chưa đạt tiêu chuẩn trên sẽ không được phép đăng ký sản xuất dược phẩm. Các cơ sở đang đạt ASEAN GMP phải nâng cấp lên WHO GMP mới được tiếp tục sản xuất thuốc. Điều đáng nói là trong số 174 cơ sở sản xuất tân dược mới chỉ có  64 cơ sở đạt WHO GMP (tính đến hết 30/9/2008). Các cơ sở sản xuất tân dược hoặc phải ngừng sản xuất hoạc chuyển sang sản xuất và kinh doanh các sản phẩm TPCN. Trong lưu thông phân phối các hiệu thuốc theo lộ trình (và nếu cấp đăng ký mới tại Hà nội và Thành phố HCM) thì phải đạt chuẩn “Thực hành hiệu thuốc tốt” GPP, đây cũng là một khó khăn trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang suy giảm. Các cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền đến năm 2011 phải đạt tiêu chuẩn WHO GMP mới được phép sản xuất thuốc. Trong khi hàng loạt các cơ sở nhỏ lẻ, các cơ sở gia truyền đang sản xuất thuốc đông y đều dần chuyển sang sản xuất và kinh doanh TPCN. Đây cũng chính là sự đột phá cho ngành kinh doanh thuốc Y học cổ truyền (do bế tắc đã nhiều năm). Muốn đăng ký là thuốc (theo Luật dược) cơ sở sản xuất phải có hồ sơ đăng ký và thời gian phê duyệt cấp số đăng ký khá lâu, thủ tục cũng phức tạp, do vậy nhiều cơ sở đã chuyển sang ngành TPCN, tự công bố và chịu trách nhiệm trước sản phẩm của mình.

Hiện nay hầu như tất cả các công ty đang sản xuất , kinh doanh thuốc đều kinh doanh thêm TPCN và các hiệu thuốc cũng kinh doanh TPCN (để ở tủ riêng biệt). Một sự phân biệt khá lý thú giữa thuốc và TPCN là: thuốc chủ yếu để điều trị bệnh, đặc biệt là các bệnh cấp tính và sự chỉ định thường qua bác sỹ, sử dụng thuốc thường không kéo dài còn TPCN chủ yếu là phòng bệnh từ yếu tố nguy cơ, hỗ trợ điều trị bệnh đặc biệt là bệnh mãn tính, không cần sự chỉ định của bác sỹ và thường sử dụng lâu dài. Những người sử dụng TPCN để phòng bệnh thường là những người có thu nhập khá trong xã hội, có trình độ nhận thức cao và đặc biệt chăm lo sức khỏe cho mình. Các dược phẩm thông thường không nên sử dụng lâu dài do tác dụng không mong muốn của nó có thể ảnh hưởng tới sức khỏe.

Các công ty dược lớn ở Việt nam như Domesco, Hậu giang, Traphaco, Imexpharm, IMC, Á Âu... đều có các sản phẩm TPCN. Công ty IMC đã đưa ra thị trường một số sản phẩm có hiệu quả như Genecel, Nattospes, Nga phụ khang, Hoàng thống phong, Kidsmune... được thị trường đánh giá cao. Đặc biệt các công ty sản xuất TPCN ở Việt nam đều dùng các nguyên liệu là các thảo dược, các chế phẩm sinh học trong nước, tạo ra nhiều việc làm cho nông dân (nuôi trồng, thu hái, chế biến) và góp phần tạo ra các giá trị kinh tế khác cho xã hội.

Theo đánh giá của các chuyên gia nguồn lợi từ các thảo dược và động vật dùng làm TPCN của Việt Nam hết sức phong phú. Thứ nhất Việt Nam có ngành Y học cổ truyền với kinh nghiệm từ hàng nghìn năm (phát triển song song với Y học cổ truyền Trung quốc, Ấn độ, Tây tạng), thứ hai là lực lượng nông dân của Việt Nam cao (chiếm tới gần 70% lực lượng lao động) sẵn sàng cho thu hái, nuôi trồng, chế biến. Đồng thời lực lượng công nhân của chúng ta cũng hết sức dồi dào và các công ty đã chú trọng tới chất lượng đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật. Viện công nghệ các hợp chất thiên nhiên (Viện khoa học công nghệ Việt nam) đã khảo sát các loại động vật biển có khả năng dùng làm TPCN như vẹm xanh (có DHA, các acid béo không no, vi lượng...) hay dầu gan cá thu, cá hét... các loại khác như cá ngựa, hải mã, hải cẩu, đẻn đều có thể dùng làm nguyên liệu chế biến TPCN. Các công ty sản xuất TPCN từ thảo dược (như IMC, Hồng bàng, Traphaco...) đã quy hoạch khu vực trồng dược liệu theo tiêu chuẩn thế giới GAP.

Thị trường TPCN tại Việt Nam hiện nay diễn ra hết sức sôi động, riêng thị trường này theo đánh giá của Hiệp hội TPCN Việt nam trị giá hàng nghìn tỷ đồng, có trên 1000 doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ và cả các cơ sở chế biến Đông y gia truyền cũng tham gia vào. Chỉ tính riêng các số các TPCN công bố tại Bộ y tế đã khoảng 3000 loại TPCN và danh sách công bố sản phẩm ngày càng dài hơn. Cơ hội cho phát triển ngành kinh tế này rất phù hợp với Việt nam bởi tới hơn 90% doanh nghiệp tại VN là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp của chúng ta có sự linh hoạt cao, năng động và chịu khó học hỏi. Theo nhận định của  PGS.TS Trần Đáng - Chủ tịch Hiệp hội thực phẩm chức năng Việt Nam (VAFF), thì ngành kinh doanh này sẽ chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế phục vụ sức khỏe với tốc độ tăng hàng năm 20%.

Cũng theo các chuyên gia của VAFF tỷ lệ % sử dụng TPCN của người dân Việt Nam đang dần gia tăng đặc biệt là khu vực thành thị. Các  loại TPCN  thường hay dùng là cho các bệnh mạn tính có thời gian điều trị lâu (như tim mạch, tiểu đường, ung thư, gout, viêm gan, lao...) và đặc biệt sự nhận thức về các mối nguy cơ do sự ô nhiễm môi trường làm hại tới sức khỏe đã làm mọi người ý thức bảo vệ bằng các loại TPCN (các sản phẩm tăng miến dịch như Delta immune, lô hội, gấc, nhàu, tỏi, tảo xoắn...)                                                                                                

CÁC PHƯƠNG THỨC PHÂN PHỐI KINH DOANH THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới TPCN được lưu hành như các thực phẩm thiết yếu khác. Các sản phẩm TPCN chủ yếu do các nhà sản xuất tự công bố tiêu chuẩn chất lượng, cơ quan quản lý (FDA hay tương đương) chứng nhận tiêu chuẩn hoặc chứng nhận lưu hành tự do (Free sale certificate) cơ sở sản xuất chịu trách nhiệm về chất lượng và các công bố của mình. Sản phẩm được bán chủ yếu trong siêu thị, cửa hàng chuyên biệt, hiệu thuốc, bán qua mạng, phân phối trực tiếp (sale direct) và đa cấp (multi level marketing). Hệ thống marketing về TPCN ngày càng phát triển và khách hàng chủ yếu của TPCN lại là những người đang khỏe mạnh bình thường nhưng có nguy cơ suy yếu một vài chức năng nào đó hoặc do chế độ ăn nghèo vitamin, khoáng chất, chất xơ hay dùng cho phụ nữ muốn giảm cân hoặc làm đẹp da chẳng hạn. Ở Việt nam cũng rất đa dạng về phương thức phân phối cũng như marketing về các loại sản phẩm này. Trước đây (từ những năm 1997) người ta dường như chỉ thấy TPCN được phân phối qua kênh đa cấp (Multi level Marketing) nhưng hiện nay các sản phẩm trên đã thông qua rất nhiều kênh phân phối để tới tay người tiêu dùng. Dưới đây đề cập một số loại phân phối chủ yếu đó.

Phân phối tại các nhà thuốc

Theo quy định về Quản lý dược ở các nhà thuốc, các sản phẩm khác thuốc (quy định là thuốc và các chế phẩm coi như thốc – theo Luật Dược VN) đều phải để riêng không lẫn với thuốc. Thông thường TPCN, các loại mỹ phẩm hay dụng cụ y tế (panh, kéo, bông băng…) được bày riêng trong tủ hoặc giá. Hiệu thuốc muốn kinh doanh TPCN theo quy định của Bộ y tế (BYT) (quy định 43-BYT) phải có chứng nhận về an toàn vệ sinh thực phẩm như các siêu thị hay cửa hàng chuyên TPCN khác. Điều này hiện nay hầu hết các hiệu thuốc chưa có vì TPCN theo quy định 43-BYT là thuộc nhóm thực phẩm có nguy cơ cao do đó phải có điều kiện khi kinh doanh. Hiệp hội TPCN Việt nam (VADS) cũng được BYT công nhận đủ điều kiện đào tạo và cấp giây chứng nhận tập huấn kiến thức về Vệ sinh an toàn thực phẩm. Hơn nữa thông thường các nhà thuốc khi đăng ký kinh doanh với cơ quan hữu quan thường không có đăng ký bán TPCN điều này dẫn tới dễ gặp rắc rối với cơ quan quản lý (chẳng hạn Quản lý thị trường, thuế…)

Có một thực tế là tuy gần như tất cả các nhà thuốc đều kinh doanh TPCN nhưng đều chưa biết các quy định pháp lý về các sản phẩm này, các chủ nhà thuốc hoặc người bán chỉ coi trọng các quy định về dược và coi TPCN như là bán thêm. Nhưng càng ngày doanh số bán về TPCN ở các nhà thuốc càng lớn khiến sự chú ý của chủ nhà thuốc dến các sản phẩm trên ngày càng cao. Có một thực tế đáng quan tâm là khi có sự kiểm tra về TPCN thì các nhà thuốc (không đủ cơ sở pháp lý) lại cất dấu các sản phẩm đi, điều này có thể góp phần làm cho những người hữu trách HIỂU CHƯA ĐÚNG về TPCN.

Các nhà thuốc hiện nay đều phải thực hiện lộ trình về tiêu chuẩn “Thực hành nhà thuốc tốt” – GPP theo yêu cầu của Cục Quản lý dược Việt Nam. Các nhà thuốc trên địa bàn Hà nội và thành phố Hồ chí Minh khi đăng ký mới hoặc đăng ký lại đều phải tuân thủ GPP mới được cấp phép. Điều này khiến cho một số nhà thuốc (do diện tích không đạt) hoặc lý do khác hoặc giải thể hoặc chỉ kinh doanh TPCN và dược mỹ phẩm.

Comments